TIN VUI CHO PHẬT TỬ VIỆT NAM

TIN VUI CHO PHẬT TỬ VIỆT NAM.
NGÀI VIỆN CHỦ THIỀN LÂM PA AUK – ĐỆ NHẤT ĐẠI TRƯỞNG LÃO THIỀN SƯ CAO THƯỢNG PA AUK SAYADAWGI & TĂNG ĐOÀN CHƯ ĐẠI ĐỨC TĂNG 12 VỊ SẼ VIẾNG THĂM VIỆT NAM 01 THÁNG.
Lịch trình Hà Nội 2 Tuần, Đà Lạt 1 Tuần Và Hồ Chí Minh 1 Tuần.
1⃣. Ngày 2⃣4⃣/5⃣/2⃣0⃣1⃣7⃣ Quí Ngài Sẽ Đáp Chuyến Bay VN 6⃣1⃣4⃣ lúc 15:55 PM từ Băng Cốc hạ cánh sân bay Nội Bài (Nhà Ga T2) vào lúc 17:55 PM
2⃣. Ngày 6⃣/6⃣/2⃣0⃣1⃣7⃣ Quí Ngài sẽ đáp chuyến bay VN 1577 lúc 12:05 AM từ thủ đô Hà Nội đi Thành Phố Đà Lạt, hạ cánh lúc 14:00 PM
3⃣. Ngày 1⃣2⃣/6⃣/2⃣0⃣1⃣7⃣ Quí Ngài sẽ rời khỏi Đà Lạt trên chuyến bay VN 7385 lúc 08:30 AM, hạ cánh lúc 09:20 AM (Nhà ga số 1) sân bay Tân Sơn Nhất – Thành Phố Hồ Chí Minh.
Kính Mời Quý Phật Tử Cung Nghinh Đón Rước Quí Ngài Tại Sân Bay Hà Nội, Đà Lạt & Hồ Chí Minh vào time trên.
ĐÔI NÉT VỀ PHƯƠNG PHÁP TU TẬP CỦA RỪNG THIỀN PA AUK
Đại trưởng lão, thiền sư Pa Auk Sayadaw là người có công lớn nhất trong việc khôi phục pháp hành theo truyền thống Thanh Tịnh Đạo của ngài Phật-Âm (Buddhaghosa), cũng là truyền thống căn bản của Phật Giáo Nguyên Thủy từ thời Đức Phật đó là Giới – Định – Tuệ. Ngày nay, có rất nhiều đường lối tu tập bị chia chẻ như :
1- Tuệ trước Định sau
2- Định Tuệ song hành
3- Định Tuệ đồng thời
4- Định trước Tuệ sau
Trong các phương pháp trên thì hành trì tu tập của ngài Pa Auk Sayadaw được xếp vào nhóm thứ 4, là Định trước Tuệ sau. Một kỷ luật trong các trường thiền theo đường lối tu tập Pa-Auk là các hành giả phải hành thiền cho đến khi thấy nimita (tợ tướng), là một trong những ấn chứng thiền định thì mới được chuyển sang tu tập thiền Tuệ (vipassana). Thật là phước lành đối với các Phật tử Việt Nam nói chung và các hành giả thiền Nguyên Thủy nói riêng khi những năm gần đây Việt Nam là điểm đến thăm của các bậc Đại trưởng lão, Đại thiền sư, Đại trí tuệ trên cả 2 phương diện: Pháp học & Pháp hành, về pháp học có các vị đỗ Tam Tạm, Nhị Tạng, Nhất Tạng), về pháp hành (các vị Đại Thiền Sư) đến thăm quan, thọ giới, hướng dẫn và giảng dạy. (st)
TIỂU SỬ NGÀI ĐẠI TRƯỞNG LÃO THIỀN SƯ PA AUK
Tôn giả Āciṇṇa được nhiều người biết đến với danh hiệu là “Tôn giả Pa-Auk Tawya Sayadaw” (và trong các trường hợp ít nghi thức hơn thì gọi là “Pa-Auk Sayadaw”. “Sayadaw” trong tiếng Miến Điện là một danh xưng tôn kính có nghĩa là “vị thầy đáng kính”.
Tôn giả Āciṇṇa sanh năm 1934 ở làng Leigh-Chaung, huyện Hinthada, ở vùng châu thổ cách thủ đô Yangon khoảng một trăm dặm về phía tây bắc. Vào năm 1944, lúc mười tuổi, ngài xuất gia làm sa-di(sāmanera) ở một thiền viện trong làng. Trong suốt thập niên tiếp theo, ngài theo đuổi đời sống của một vị sa-di, học Kinh Điển Pāḷi (bao gồm Luật (Vinaya), Kinh (Sutta) và Vi Diệu Pháp (Abhidhamma)) dưới sự chỉ dạy của nhiều vị thầy khác nhau. Ngài đã đậu ba kỳ thi về ngôn ngữ Pāḷi trong khi vẫn còn là một sa-di.
Năm 1954, vào tuổi hai mươi, Sayadaw thọ cụ túc giới làm một Tỷ-kheo. Ngài tiếp tục nghiên cứu Kinh Điển Pāḷi dưới sự hướng dẫn của các vị trưởng lão uyên bác. Năm 1956, ngài thi đậu kỳ thiDhammācariya danh tiếng. Học vị này tương đương với bằng Cử nhân Phật Học Pāḷi và được phong danh hiệu “Pháp Sư”.
Trong những năm tiếp theo, Đại Đức Āciṇṇa vân du khắp nước Myanmar để tiếp tục nghiên tầm Giáo Pháp và thọ học Pháp bảo từ các bậc danh sư khác nhau.
Năm 1963, Đại Đức Āciṇṇa đến Trung tâm thiền Mahāsi tại Yangon để cầu học phương pháp thực hành thiền với Ngài Mahāsi Sayadaw và Ngài U Paṇḍitābhivaṃsa trong suốt 55 ngày. Vốn có ba-la-mật trong Pháp hành, Đại Đức đã đắc được các tầng tuệ căn bản của thiền Tuệ được dạy ở đây chỉ trong vòng một tháng. Tuy nhiên, vì muốn biết rõ phương pháp thực hành một cách trọn vẹn, Đại Đức đã thực hành đến 55 ngày. Với kiến thức Pháp học và Pháp hành đã khá vững vàng, Đại Đức Āciṇṇa đi đến ngọn núi Mya-Tha-Peit ở gần núi Taung-Zun Kelāsa tại thị trấn Tha-Hton thuộc tiểu bang Mon để ẩn tu một mình và hành thiền tại đó.
Sau đó một thời gian, Đại Đức tiếp tục tìm học các phương pháp thực hành khác và đã đến nương tựa học với Ngài Than-Lyin Taw-Ya Sayadaw trong sáu tháng rưỡi, và vào năm 1965 với Ngài Shwe-Thein Taw-Ya Sayadaw tại thị trấn Kinnī trong ba tháng rưỡi.
Dù lúc bấy giờ Đại Đức Āciṇṇa tầm học và đã đạt được những chỉ dẫn từ các vị thiền sư tôn kính thời bấy giờ, nhưng do có thói quen so sánh Pháp học với Pháp hành, Đại Đức đã đối chiếu, khảo sát và không thỏa mãn với phương pháp thực hành đã được học trước đó nên lần này Đại Đức quyết định vào rừng ẩn tu. Và Đại Đức tiếp tục nghiên cứu, thực hành thiền dựa theo Kinh Điển Pāḷi và bộ Visuddhimagga (Thanh Tịnh Đạo).
Trước đó từ lâu, Đại Đức Āciṇṇa có tâm nguyện rằng: “Sau khi thọ đại giới 10 năm, mình sẽ vào rừng ẩn tu”. Khi chương trình Cử nhân Phật học bị gián đoạn cũng là lúc Đại Đức gần được 10 hạ lạp. Bắt đầu từ năm 1964, vào mùa an cư mùa mưa (vassa) thứ 10, Đại Đức Āciṇṇa đã khởi phát tâm hành thiền mãnh liệt và bắt đầu thực hành “Hạnh đầu đà ngụ trong rừng” ở nhiều khu vực khác nhau phía Nam Myanmar trong hơn 16 năm tiếp theo. Ngài vẫn tiếp tục nghiên cứu Kinh Điển Pāḷi dù giờ đây ngài đã tìm ra và đã đạt được những chỉ dẫn từ các vị thiền sư tôn kính thời bấy giờ.
Trong thời gian tu tập Pháp hành, Đại Đức Āciṇṇa di chuyển nhiều nơi để chọn trú xứ thích hợp. Đại Đức cư ngụ tại dãy núi gần núi Nemindara thuộc thị xã Tha-Hton trong một năm, tại trung tâm thiền Kyauk-Ta-Lon Cittasukha Taw-Ya thuộc thị xã Mu-Don trong ba năm, và tại Trung tâm thiền A-Xin Taw-Ya gần thôn A-Xin thuộc thị xã Ye trong 13 năm. Đại Đức vẫn duy trì vừa học Thánh Điển, vừa tu tập thiền Định, thiền Tuệ hết sức tinh chuyên và sống một đời sống vô cùng giản đơn. Suốt thời gian này, Đại Đức Āciṇṇa chỉ ở một mình, không cộng trú với các đồng môn khác, và hoàn toàn ngừng mọi mối quan hệ với gia đình và người thân.
Cũng trong thời gian này, vì ăn một ngày một bữa và ăn rất ít nên Đại Đức Āciṇṇa mắc phải bệnh loét dạ dày và bệnh sốt rét. Một lần, tại Trung tâm thiền A-Xin Taw-Ya, Đại Đức bị bệnh dạ dày hành hạ không đi khất thực được mà chỉ nằm nghỉ trong một cốc nhỏ và không cho các vị đồng phạm hạnh trong chùa biết, vì sợ ảnh hưởng đến việc hành thiền của họ. Khi các vị ấy biết Đại Đức bị bệnh và đến thăm, Đại Đức mới cho họ biết sự thật về bệnh trạng của mình. Vì bệnh dạ dày nên Đại Đức đã nhập viện tại Bệnh viện Mawlamyine để chữa trị qua một cuộc phẫu thuật. Đại Đức cũng đi Yangon để chữa trị với các bác sĩ chuyên khoa khác. Đối với bệnh tật, Ngài quán xét : “Phải chăng chúng là quả của nghiệp trong quá khứ?”; nghĩ vậy, Đại Đức chấp nhận sống với chúng và lạc quan trong trách phận của một tỳ-kheo đệ tử Phật đó là bổn phận học Pháp (Gantha-dhura) và bổn phận hành Pháp (Vipassanā-dhura), không một chút dễ duôi.
Trong những năm đó, Đại Đức Āciṇṇa tu tập các pháp hạnh đầu đà như hạnh mặc y được may từ giẻ rách bị vứt bỏ (paṃsukūla-cīvara), hạnh chỉ mặc tam y, hạnh sống dưới gốc cây v.v… sống đời sống sơn tăng giản dị và thoả thích trong thiền tập.
Vốn quen biết với Ngài Viện chủ đời thứ hai của Trung tâm thiền Pa-Auk, Tôn Giả Aggapañña, tại Trung tâm thiền Kyauk-Ta-Lon suốt 3 năm, nên Đại Đức Āciṇṇa được Ngài Aggapañña biết đến và rất ngưỡng mộ khả năng của Đại Đức về cả Pháp học lẫn Pháp hành.
Vào tháng 7 năm 1981, Tôn Giả Aggapañña lâm trọng bệnh và sắp xả bỏ báo thân nên thỉnh cầu Đại Đức Āciṇṇa tiếp tục thay Ngài điều hành Thiền viện. Thật lòng, Đại Đức Āciṇṇa không muốn nhận lời, vì sợ công việc của một viện chủ sẽ ảnh hưởng đến việc tu tập Pháp hành. Nhưng để Ngài Aggapañña được an lạc lúc lâm chung, Đại Đức đành phải nhận lời thỉnh cầu này. Năm ngày sau, Tôn giả Aggapañña qua đời. Là vị trụ trì mới của thiền viện, Tôn giả Āciṇṇa được biết đến là ngài “Pa-Auk Tawya Sayadaw”. Dù vẫn trông coi hoạt động của thiền viện, Sayadaw vẫn dành nhiều thời gian độc cư, hành thiền trong cốc tre ở đỉnh đồi của khu rừng vốn bao phủ một vùng đồi hoang vắng chạy dọc chân rặng núi Taung Nyo. Khu vực đó, sau này, trở thành Thiền Viện Khu Thượng.
Từ năm 1983, cả người xuất gia lẫn thế tục đã tìm đến học thiền với ngài Sayadaw. Thiền sinh ngoại quốc bắt đầu đến thiền viện vào đầu những năm 1990. Khi danh tiếng của ngài Sayadaw vang xa vững chắc, Thiền Viện Khu Thượng dần được mở rộng từ một cái cốc đơn giản và một ít đệ tử thành hơn hai trăm năm mươi cốc (kuti) (cốc của thiền sinh) nằm trong rừng; một tòa thiền đường hai tầng cho nam và một thư viện (với văn phòng, phòng vi tính, và tăng xá nằm ở tầng trệt); một trạm xá; một nhà thương; một sảnh đi bát khất thực; một nhà ăn có hai tầng lầu; và một sảnh tiếp khách và trú ngụ cho ngài Sayadaw. Ở Thiền Viện Khu Hạ, cho bên nữ, cơ sở vật chất gồm hơn 180 cốc (kuti) một nhà bếp mới và một thiền đường ba tầng lầu (với khu vực ngủ ở tầng trệt) và một khu nhà tập thể năm tầng lầu.
Tháng 5/2010), trong dịp khóa thiền tích cực do ngài Pa-Auk Tawya Sayadaw chủ trì, có gần hai ngàn vị tăng, tu nữ và thiền sinh thế tục cả người Myanmar và ngoại quốc đang tu tập tại Rừng Thiền Pa-Auk. Riêng thiền sinh người Việt Nam có gần tám mươi vị. Tính luôn người thế tục, vào dịp lễ, số người ở thiền viện đôi khi lên đến vài ngàn người.
Năm 1997, ngài Sayadaw xuất bản 5 tập sách khổng lồ với tựa đề là “Lộ Hành Đến Niết-bàn” (Nibbānagāmini Paṭipadā), giải thích chi tiết toàn bộ quá trình giảng dạy và được hỗ trợ bằng các trích dẫn phong phú từ Kinh Điển Pāḷi – hiện chỉ có ấn bản tiếng Myanmar và Sinhalese (tiếng Sri Lanka). Vào ngày 4/1/1999, với sự ghi nhận thành tựu của ngài Sayadaw, chính phủ Myanmar dành tặng ngài danh hiệu Aggamahākammaṭṭhānācariya, nghĩa là “Đệ Nhất Đại Thiền Sư”.
Ngài Sayadaw nói lưu loát tiếng Anh và có giảng dạy và chỉ đạo các khóa thiền bên ngoài Myanmar từ năm 1997.
Năm 2016, trên toàn đất nước Miến Điện có tổng 31 thiền viện Pa Auk và 14 chi nhánh trên toàn thế giới. Riêng Quốc Đảo Tích Nhĩ Lan (Sri Lanka) thuộc trường phái Tộc Môn do ngài Nauyane Ariyadhamma Maha Thera‍ tổng trợ lý – Đại Thiền Sư Đồng Thời Là Bậc Thấu Suốt Tam Tạng, Bậc Gìn Giữ Kho Tàng Pháp Bảo, ngài đắc tuệ hành xả 11 và quán kiếp quá khứ dưới sự chỉ dẫn của ngài Đại Trưởng Lão Thiền Sư Pa Auk thấy lời phát nguyện thành Đức Phật Chánh Đảnh Chánh Giác ngài đã dẫn dắt 193 chi nhánh Thuộc phái tộc Môn – Sri Lanka tu tập theo phương pháp của ngài Đại trưởng lão thiền sư Pa Auk. Ngài Pa Auk thường xuyên sang quốc đảo Sri Lanka để hướng dẫn phái tộc môn hành thiền và rừng thiền cổ xưa nhất Sri lanka NA UYANA ARANYA của phái tộc môn cũng đề tên chi nhánh Pa auk, như để tri ân ngài đại trưởng lão thiền sư Pa auk.
(Nguồn: Tiểu sử ngài Pa Auk Sayadawgi, Rừng thiền cổ xưa câu chuyện về ngài Nauyane Ariyadhamma Maha Thera được nghe trực tiếp qua lời kể của vị đệ tử thân cận ngài Pa Auk, st)
Thông tin từ Face chị Helen Nguyen

6 thoughts on “TIN VUI CHO PHẬT TỬ VIỆT NAM

  1. Hạnh Hanh Nhi Vo mà chị ơi ngày vào Tphcm sẽ giảng pháp và ngụ nơi đâu chị biết không

  2. C đang ở Thái, em
    K ra sân bay đón ngài à? Neu ra san bay em se bit thong tin. De c hoi lai roi nt cho em nhe Khánh Vũ Đinh

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *