Nên tin cậy “đại chúng” hay “nhà chuyên môn”

Nên tin cậy “đại chúng” hay “nhà chuyên môn”?
Dùng internet cũng giống như mở thêm một đôi mắt để quan sát thế giới. Một thế giới không kém thậm chí phong phú hơn thế giới nhìn bằng đôi mắt thường hàng ngày.
Trước một sự kiện, hiện tượng xã hội những thành viên của hai thế giới đều thể hiện sự “nhận thức” và “giải thích” của mình. Công việc này xét ở nghĩa rộng khá giống công việc của nhà sử học.
Nếu phân loại những người “nhận thức” và “giải thích” ở diện rộng có thể chia thành hai loại: “đại chúng” và “nhà chuyên môn”.
Trong nhiều trường hợp “nhận thức” và “giải thích” của giới chuyên môn trùng khớp với “nhận thức” và “giải thích” của đa số công chúng. Tuy nhiên, cũng có trường hợp phần trùng khớp rất ít thậm chí đối lập hoàn toàn. Trong trường hợp ấy, nên tin cậy “đại chúng” hay “nhà chuyên môn”?
Tình cảnh nước Nhật năm 2011 trong cơn bão những tin đồn thật giả lẫn lộn về sự cố hạt nhân ở nhà máy điện nguyên tử Fukushima là một ví dụ.
Ở Nhật Bản cũng như những nước phát triển khác, trong các trường hợp đó các phương tiện truyền thông trong khi phản ánh trung thực tình cảnh và tình cảm của dân chúng cũng tiến hành song song việc phỏng vấn các nhà chuyên môn để họ thể hiện “nhận thức” và “giải thích”.Trong tư cách nhà chuyên môn, “sự nhận thức” và “giải thích” của họ sẽ không lung lay hay chiều theo đại chúng.
Ở những nước có dân trí cao thì khoảng cách về “nhận thức” và “giải thích” giữa giới chuyên môn và đại chúng càng hẹp và ngược lại.
Khi nhận thức của đại chúng khác nhà chuyên môn, nhà chuyên môn sẽ không khỏi cảm thấy cô độc. Nhưng đó cũng là hệ quả do chính nhà chuyên môn tạo ra-nhà chuyên môn đã không thành công trong việc đưa tới đại chúng những kết quả nghiên cứu của mình để chuyển hóa chúng thành tri thức phổ quát.
Muốn quá trình chuyển hóa này diễn ra thuận lợi thông thường sẽ cần hai loại nhà chuyên môn.
Thứ nhất là nhà chuyên môn loại một: nghiên cứu chuyên sâu tìm ra những cái “mới ngay cả với giới chuyên môn”. Sản phẩm của họ là các bài báo khoa học hay sách chuyên ngành dành cho giới chuyên môn.
Thứ hai là nhà chuyên môn loại hai: chuyên tâm cơ cấu lại và chuyển hóa thành tựu của nhà chuyên môn loại một đến công chúng. Sản phẩm của giới này là các cuốn sách có tính chất “khai sáng”, các bài báo “có tính chất phổ thông”, các buổi diễn thuyết, bài giảng “mở” dành cho đại chúng.
Trong nhiều trường hợp, có nhà chuyên môn sẽ làm cả hai công việc trên như một nhà khoa học toàn năng. Những nhà khoa học dạng này thường được công chúng biết đến nhiều và được yêu mến.
Dông dài để rồi quay lại Việt Nam. Ở Việt Nam, trước rất nhiều sự kiện, hiện tượng, các “nhận thức” và “giải thích” xuất hiện trên sách vở, truyền thông hoàn toàn là của “đại chúng”. Trong nhiều trường hợp khác “nhận thức” và “giải thích” của các “nhà chuyên môn” hoàn toàn bị cuốn theo “đại chúng”.
Tình trạng ấy thể hiện sự thiếu hụt của cả hai loại nhà chuyên môn đã nói ở trên.
Ở Việt Nam cũng có thói quen hay “đổ tại” “dân trí thấp”. Đấy là một thực tế khó phủ nhận.Nhưng rõ ràng sẽ là bất công và hiện thực “dân trí thấp” sẽ không bao giờ thay đổi khi giới chuyên môn không “nhận thức” và “giải thích” rằng hiện tượng đó một phần thuộc về trách nhiệm của chính mình.

5 thoughts on “Nên tin cậy “đại chúng” hay “nhà chuyên môn”

  1. Khi nào thì có thể tự nhận mình là “nhà chuyên môn” để có thể thực hiện được nghiã vụ đó?

    1. 1. Khi nào một ai đó có thể tự nhận mình là nhà chuyên môn: cái này sẽ có thể đưa về 2 tiêu chí hình thức: bằng cấp và kinh nghiệm, tùy vào hoàn cảnh và lĩnh vực mà sẽ được cụ thể hóa, ví dụ: học vị tiến sĩ hoặc kinh nghiệm thực hành/giảng dạy/xuất bản nhưng đây là “tiêu chí bên ngoài” vì nó đến từ sự công nhận của xã hội, cái hay trong câu hỏi là nằm ở chữ “tự nhận mình là”: tức là việc tự nhận thức về năng lực chuyên môn của chính mình, cái này mang tính chủ quan và nếu có thể khái quát thì sẽ nằm ở chỗ ” thực sự tin vào những việc mình làm”
      2. Khi nào một nhà chuyên môn có thể thực hiện nghĩa vụ (tạm gọi là) “lên tiếng”: nó gắn 1 phần với ý trên ở tiêu chí xác định nhà chuyên môn: bằng cấp và kinh nghiệm, nhưng quan trọng hơn là ở chỗ người này muốn lên tiếng và sẵn sàng lên tiếng, tức là “cảm thấy mình có trách nhiệm”, cổ nhân có câu: “quốc gia hữu sự, sỹ phu hữu trách”, và cái trách nhiệm lên tiếng ở đây hoàn toàn là do người này tự nguyện, xuất phát từ một sự thôi thúc đến từ bên trong (chứ không phải vì lợi ích từ bên ngoài như sự nổi tiếng hay tiền bạc, lợi ích đi kèm).
      3. Tiêu chuẩn để minh định cho cả 1 và 2 chỉ có thể thông qua đối thoại

  2. Cảm ơn bạn! Cho mình hỏi đối thoại như thế nào để minh định được 1 và 2.

  3. Câu này khó, mình chỉ có thể trả lời 1 phần nhỏ của vấn đề (vì bản thân mình cũng đang đi tìm câu trả lời rốt ráo hơn)
    1. Quay trở về lịch sử nguyên thủy của phương pháp đối thoại là từ Socrates, kỹ thuật của Socrtes là “đặt câu hỏi gợi mở”, ông nói rằng ông ta chẳng dạy ai cái gì cả nhưng tất cả những người đến với ông ta thông qua việc đối thoại và tìm kiếm câu trả lời cho những câu hỏi mà ông ta đặt ra, lại tìm được chân lý cho riêng mình, vậy nên tiêu chí đầu tiên là: đặt được câu hỏi đúng
    2. Tiếp theo, Antoine de Saint-Exupéry trong Hoàng Tử Bé cũng đưa ra một nguyên tắc đó là “không bao giờ từ bỏ câu hỏi mà mình đã đặt ra”, đó là vấn đề về tinh thần khoa học, về sự băn khoăn trăn trở đối với tri thức, Karl Jaspers gọi đó là “lòng hiếu tri nguyên thủy”
    3. Thái độ của một người tham gia đối thoại cũng cho ta thấy nhiều điều, phải có đối thoại thì mới có tranh luận/tranh biện (debat) theo đúng nghĩa, tức là trung thành với nguyên tắc của lý tính (reason), tranh luận dựa trên tính hợp lý của quan điểm chứ không ngụy biện, không công kích cá nhân, không dùng danh vị, tước hiệu chuyên môn để chèn ép người khác

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *